Du học Switzerland
DU LỊCH THUỴ SĨ: Nắm bắt thông tin cần biết
08/06/2010 09:22 SA

Lịch sử

Lịch sử của Thụy Sĩ gắn liền với địa lý vốn có một ảnh hưởng lớn đến việc quyết định sự phát triển và lối sống. Đất nước Thụy Sĩ mà chúng ta biết tới hôm nay chỉ mới định hình lần cuối cùng vào năm 1848.


Lịch sử Thụy Sĩ   


Lịch sử của Thụy Sĩ gắn liền với địa lý vốn có một ảnh hưởng lớn đến việc quyết định sự phát triển và lối sống. Đất nước Thụy Sĩ mà chúng ta biết tới hôm nay chỉ mới định hình lần cuối cùng vào năm 1848. Trước đó, chúng ta khó có thể nói là “lịch sử Thụy Sĩ”, mà là lịch sử hình thành Liên bang Thụy Sĩ ngày nay.  

Các giai đoạn hình thành của Thụy Sĩ (1291 - 1815):


Năm

Sự kiện

1291

Ba bang Uri, Schwyz và Unterwalden – cũng gọi là "Ur-Kantone" hợp nhất để chống lại những kẻ xâm lược xung quanh, khởi đầu cho sự thành lập liên bang vào ngày mùng 1 tháng 8 năm 1291 trên một quả núi nhỏ có tên "Rütli"

1332

Luzern gia nhập Liên bang Thụy Sĩ

1351

Zürich gia nhập Liên bang Thụy Sĩ

1352

Glarus và Zug gia nhập Liên bang Thụy Sĩ

1353

Bern gia nhập Liên bang Thụy Sĩ

1460

Thành lập trường đại học Bern sau này là trường đại học đầu tiên của Thụy Sĩ

1481

Fribourg và Solothurn gia nhập Liên bang Thụy Sĩ

1500

Bắt đầu thời kỳ Phục Hưng, mọi người trở nên quan tâm tới khoa học

1501

Basel và Schaffhausen gia nhập Liên bang Thụy Sĩ

1513

Appenzell gia nhập Liên bang Thụy Sĩ

1522

Bắt đầu Phong trào cải cách

1648

Tuyên bố Độc lập - Thụy Sĩ trở thành một Quốc gia độc lập

1803

Sankt Gallen, Graubünden, Thurgau, Ticino, Aargau và Vaud gia nhập Liên bang Thụy Sĩ

1812

Liên bang Thụy Sĩ công bố thái độ trung lập

1815

Valais, Neuchâtel và Genéve gia nhập Liên bang Thụy Sĩ - Thụy Sĩ có các đường biên giới cuối cùng. Tới năm 1848 Thụy Sĩ chuyển đổi từ một Liên hiệp các bang sang một Liên bang. Hiến pháp Liên bang đầu tiên được xây dựng.

 

Địa lý


Thụy Sĩ có diện tích 41,285 km2 (15,940 dặm vuông). Diện tích sản xuất - diện tích không có hồ, sông, hoặc thực vật - chiếm 30,753 km2 (11,870 dặm vuông).


 Địa lý Thụy Sĩ  

 

Thụy Sĩ có diện tích 41,285 km2 (15,940 dặm vuông). Diện tích sản xuất - diện tích không có hồ, sông, hoặc thực vật - chiếm 30,753 km2 (11,870 dặm vuông).

Tọa độ địa lý:

- Điểm cực phía bắc: N 47o 48’ 35’’

- Điểm cực phía nam: S 45o 49’ 08’’

- Điểm cực phía đông: E 10o 29’ 36’’

- Điểm cực phía tây: E 5o 57’ 24’’

Khoảng cách từ bắc tới nam là 220 km (137 dặm) và từ đông sang tây là 350 km (217 dặm)

Jura (10%), Plateau hay Middle land (30% - vùng trung tâm) và Alps (60%) hình thành ba vùng địa lý chính của Thụy Sĩ.

Múi giờ:

Thụy Sĩ nằm trong múi giờ Trung Âu (Central European Time zone – CET hay Middle European Time zone - MET), múi giờ trước 1 giờ của giờ Greenwich (GMT + 1).

Giờ mùa hè (ngày bắt đầu sớm hơn 1 tiếng so với giờ mùa đông) bắt đầu từ đầu mùa xuân và kết thúc vào cuối mùa thu, chỉ cùng một giờ với các quốc gia của EU.

Núi:

Thụy Sĩ sở hữu khoảng 20% dãy núi Alps. Xấp xỉ 100 đỉnh gần hoặc cao hơn 4000 m (13125 feet) trên mực nước biển. Nhiều khu vực núi được phát triển, có tàu điện, đường sắt răng cưa, xe cáp treo trên không và nhiều phương tiện vận tải khác. Các ngọn núi Thụy Sĩ nổi tiếng với các môn thể thao leo núi, trượt tuyết, đi xe đạp, đi bộ và nhiều hoạt động giải trí khác.

Đường đèo:

Thụy Sĩ nổi tiếng về những con đường đèo. Đây là những con đường quan trọng giữa phần phía bắc và phía nam Châu Âu.

Sông băng:

Có hơn 3000 km2 sông băng ở Thụy Sĩ, số lượng sông băng đang giảm dần.

Khí hậu và các mùa    

Sự đa dạng của Thụy Sĩ được phản ánh trong khí hậu, bất chấp diện tích nhỏ bé. Dãy Alps là một yếu tố quan trọng ở đây, như là một tấm chắn, bởi vậy thời tiết ở miền bắc thường khác biệt so với thời tiết miền nam. Có thể nhận thấy mùa đông ở miền nam dịu hơn ở miền bắc. Thêm vào đó lượng mưa cũng rất khác biệt.

Về mặt khí hậu Thụy Sĩ nằm trong một vùng chuyển tiếp. Ở phía tây có ảnh hưởng mạnh của Đại Tây Dương. Gió mang rất nhiều ẩm vào Thụy Sĩ và gây mưa. Ở phía đông, khí hậu chủ yếu là lục địa, với nhiệt độ thấp hơn và ít mưa hơn. Mặt khác, dãy Alps - chạy từ đông sang tây – có tác động như một dải ngăn cách khí hậu. Phía nam dãy Alps, khí hậu chủ yếu là khí hậu Địa Trung Hải, với nhiệt độ cao và cũng nhiều mưa.

Các mùa được phân chia khá rõ ràng. Mùa xuân (tháng 3 đến 5) cây cối ra hoa và đồng cỏ xanh trở nên xanh tươi. Mùa hè nhiệt độ tăng lên tới 25-30 độ C (77-86 độ Fahrenheit). Mùa thu (tháng 9 đến 11) hoa quả chín, sau đó lá cây chuyển sang màu nâu và rụng xuống. Mùa đông phong cảnh thay đổi hoàn toàn bởi tuyết trắng bao phủ khắp nơi.

Nói chung, mùa xuân ẩm và mát mẻ, tháng 4 nổi tiếng về sự thay đổi nhanh chóng và thường xuyên của các điều kiện thời tiết. Mùa hè ấm và khô với nhiệt độ tối đa lên tới 35°C (95°F). Nhiệt độ phụ thuộc chủ yếu vào độ cao, mức zero (0°C or 32°F) có thể có ở độ cao 4000 m trên mực nước biển (13125 feet). Mùa thu thường khô, nhưng mát. Nhiệt độ sẽ hạ xuống nhiều vào tháng 9 hoặc 10, với mức zero ở độ cao khoảng 2000 m trên mực nước biển (6560 feet). Mùa đông lạnh và khô. Nhiệt độ có thể xuống dưới 0°C ở khắp nơi trên đất Thụy Sĩ, đặc biệt vào ban đêm. Trong dãy Alps, thường có rất nhiều tuyết, nhưng thậm chí ở các độ cao thấp hơn, thỉnh thoảng vẫn có tuyết rơi dầy cả foot (đơn vị đo chiều dài Anh bằng 0,3048 m).


Ba vùng địa lý    


Vùng cao nguyên Thụy Sĩ  (Plateau hay Middle)  


Vùng Plateau trải dài từ hồ Geneva ở miền tây nam tới hồ Constance ở miền đông bắc, với độ cao trên mặt nước biển trung bình là 580 m (1902 ft).

Vùng này chiếm khoảng 30% diện tích bề mặt của quốc gia, nhưng là nhà của hai phần ba dân số. Có 450 người trên mỗi km vuông. Ít có khu vực nào ở Châu Âu có mật độ dân số cao hơn.

Hầu hết các ngành công nghiệp và đất chăn nuôi, trồng trọt của Thụy Sĩ được tập trung ở vùng Plateau.

Vùng Jura


Jura là một dãy núi đá vôi kéo dài từ hồ Geneva lên phía bắc tới sông Rhine, chiếm khoảng hơn 10% diện tích bề mặt của Thụy Sĩ. Nằm ở độ cao trên mực nước biển trung bình là 700 m (2300 ft), đây là cao một cao nguyên đẹp như tranh với các thung lũng và những dòng sông.

Vô số hóa thạch và các dấu vết khủng long đã được tìm thấy trong vùng Jura, nơi được lấy tên đặt  cho thời kỳ kỷ Jura. Các khối đá của Jura đã được hình thành trong thời gian từ 208 triệu đến 144 triệu năm trước. Các khối đá thời kỳ kỷ Jura được tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới, nhưng vùng Jura là nơi đầu tiên được nghiên cứu, vào cuối thế kỷ 18.

Vùng Alps


Dãy Alps kéo dài khoảng 200 km (125 dặm), với độ cao trên mực nước biển trung bình 1700 m (5576 ft), và bao phủ gần hai phần ba tổng diện tích bề mặt của Thụy Sĩ. Đường tuyết (độ cao có tuyết) bắt đầu từ 2.500 m (8.200 ft). Có 48 ngọn núi có độ cao từ 4.000 m (13.120 ft) trở lên và khoảng 1.800 sông băng.

Dãy núi cao nhất ở Thụy Sĩ là Dufourspitze tại bang Valais, cao 4634 m (15203 ft).

Dãy Alps cung cấp các hình thức giải trí và thư giãn cho người dân thành phố. Các đường sắt trên núi đã được xây dựng, cũng như các trung tâm thể thao, các khách sạn và các nhà nghỉ. 60% du lịch được tập trung trong dãy Alps và vùng chân núi, cung cấp công việc trong vùng núi, nhưng cũng gây ra các vấn đề sinh thái. 75% du khách đến đây bằng xe ô tô riêng.

 

Sông và hồ


 


Thụy Sĩ có 6% trự lượng nước ngọt của Châu Âu. Sông Rhine, Rhone và Inn đều bắt nguồn từ đây, mặc dù dòng chảy hướng về ba biển khác nhau: sông Rhein với các nhánh Aare và Thur đổ 67,7% lượng nước vào Biển Bắc. Sông Rhone và Ticino chảy 18% vào biển Địa Trung Hải. Sông Inn chảy 4,4% vào Biển Đen.

Thác Rhine, một vài km xuôi dòng từ Schaffhausen, là thác nước lớn nhất Châu Âu, rộng 150 m (450 ft) và cao 25 m (80 ft).

Thêm vào đó, Thụy sĩ có trên 1.500 hồ. Hai hồ lớn nhất, hồ Geneva và Constance, nằm trên biên giới. Hồ Geneva được chung với Pháp, và hồ Constance với Đức và Áo. Hồ Geneva, nằm trên dòng chảy của sông Rhone, là hồ nước ngọt lớn nhất ở trung tâm Châu Âu.

Hồ lớn nhất nằm trọn vẹn trong lãnh thổ Thụy Sĩ là hồ Neuchâtel với diện tích 218.4 km vuông (84.3 dặm vuông). Tuy nhiên, có lẽ hồ nổi tiếng nhất là hồ Lucerne ở trung tâm Thụy Sĩ (113.7 km vuông/ 44 dặm vuông).

Ngoài ra, cũng có nhiều hồ đập nước, chủ yếu để dẫn động tua-bin các nhà máy thủy điện.


Kinh tế


Nền kinh tế của Thụy Sĩ dựa vào lực lượng lao động trình độ cao thực hiện các công việc đòi hỏi kỹ năng và chất lượng hàng đầu. Các lĩnh vực chính gồm có: ...


Nền kinh tế Thụy Sĩ


Nền kinh tế của Thụy Sĩ dựa vào lực lượng lao động trình độ cao thực hiện các công việc đòi hỏi kỹ năng và chất lượng hàng đầu. Các lĩnh vực chính gồm có công nghệ vi mô, công nghệ cao, công nghệ sinh học và dược phẩm, cũng như trong lĩnh vực ngân hàng và bảo hiểm. Khu vực dịch vụ hiện đang sử dụng số lượng lao động lớn nhất.

Hầu hết người lao động ở Thụy Sĩ được sử dụng bởi các công ty nhỏ và vừa, những công ty này đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Thụy Sĩ.

Người Thụy Sĩ yêu cầu các hoạt động kinh tế phải có càng ít tác động đến môi trường càng tốt. Chính sách năng lượng và vận tải của Thụy Sĩ hướng tới thân thiện với môi trường.

Giai đoạn tăng trưởng kinh tế không giới hạn của Thụy Sĩ đã qua. Nỗi lo lắng bị thất nghiệp là một trong những mối quan tâm chính của người Thụy Sĩ trong vài năm gần đây.


Phụ thuộc vào thương mại


Thụy Sĩ thực sự không có nguồn tài nguyên khoáng sản nào và diện tích bề mặt cũng hạn chế. Sự giàu có của họ phụ thuộc vào ngoại thương. Thị trường nội địa nhỏ bé - tổng số dân chỉ hơn 7.700.000 người – là một yếu tố khuyến khích các nhà sản xuất Thụy Sĩ tìm kiếm thị trường bên ngoài: họ cần thị trường nước ngoài để khai thác xứng đáng với những đầu tư vào nghiên cứu và phát triển.

Thụy Sĩ nhập khẩu các nguyên liệu thô và xuất khẩu hàng hóa chất lượng cao. Năm 2003 giá trị của một tấn hàng hóa xuất khẩu bằng hai phẩy hai nhăm lần giá trị của cùng khối lượng nhập khẩu.


Nghiên cứu và phát triển


Nền kinh tế Thụy Sĩ không xây dựng trên cơ sở sản xuất theo số nhiều mà theo sản phẩm chất lượng cao và đội ngũ công nhân được đào tạo tốt. Nhiều công ty đi theo một chiến lược mà họ gọi là “niche strategy”, tập trung vào một ít dòng sản phẩm chất lượng cao. Và kết quả là vài công ty dù nhỏ nhưng đã có đủ khả năng chiếm lĩnh thị trường thế giới trong lĩnh vực chuyên sâu của họ.

Trên hết, các lĩnh vực quan trọng để Thụy Sĩ xuất khẩu là công nghệ vi mô, công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghiệp dược phẩm và kỹ nghệ ngân hàng và bảo hiểm.

Các sản phẩm của Thụy Sĩ có thể đòi hỏi giá cao trên thị trường thế giới bởi vì những người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao cho chất lượng cao. Nhưng với một chính sách như thế, các công ty Thụy Sĩ không thể nghỉ ngơi trên những thành tựu của họ. Phải tập trung cao độ vào nghiên cứu và phát triển. Tại Thụy Sĩ, tỷ lệ phần trăm lao động làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển cao hơn ở các quốc gia công nghiệp hóa khác.

Trên 2,9% tổng sản phẩm quốc gia được chi cho nghiên cứu năm 2004. Phần lớn tài chính – hơn hai phần ba - được cung cấp bởi bộ phận tư nhân.

 

Bối cảnh quốc tế

 

Các công ty Thụy Sĩ cực kỳ cạnh tranh trên các thị trường thế giới. Trong một số lĩnh vực, hơn 90% hàng hóa và dịch vụ được xuất khẩu. Các hạng mục xuất khẩu nổi tiếng nhất là đồng hồ, sôcôla và phomát, nhưng trên thực tế cơ khí và kỹ thuật điện và hóa chất cùng nhau chiếm hơn nửa tổng thu nhập xuất khẩu của Thụy Sĩ.

Các khu vực nơi Thụy Sĩ là một nhà cung cấp hàng đầu bao gồm khung dệt vải, giấy và máy in, các công cụ cơ khí, thang máy và thang cuốn, thiết bị đóng gói và thiết bị đường sắt. Tuy nhiên, nhiều bộ phận của các hạng mục này giờ đây đang được sản xuất ở nước ngoài.

 Tư vấn, bảo hiểm và du lịch cũng là một phần của thương mại xuất khẩu. Riêng xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ trị giá khoảng 25.000 franc – 16.000 đôla – tính trên đầu người một năm, theo số liệu của OSEC, cơ quan xúc tiến ngoại thương Thụy Sĩ.

Các đối tác thương mại chính của Thụy Sĩ là các thành viên EU. Đối tác lớn nhất là Đức. Năm 2005 tiếp theo thứ tự giảm dần là Ý, Pháp, Áo, Mỹ và Anh. Năm 2005, 62,3% xuất khẩu đi tới các nước EU, và 80% nhập khẩu đến từ các quốc gia EU. Điều này bất chấp thực tế rằng người Thụy Sĩ đã bỏ phiếu không gia nhập cộng đồng chung Châu Âu.

Chính sách kinh tế Thụy Sĩ luôn luôn dựa trên tự do thương mại, với mức thuế nhập khẩu thấp và hầu như không có hạn ngạch nhập khẩu - chỉ duy nhất một ngoại trừ là cho sản xuất nông nghiệp. Thậm chí có nhiều hạn chế đang được nới lỏng nhờ một kết quả của các hiệp định gần đây với EU.

 

Các khu vực chính

 

Nền kinh tế của Thụy Sĩ được chia thành ba khu vực:

1.      Nông nghiệp

2.      Công nghiệp

3.      Các dịch vụ

Dưới 10% dân số được làm việc trong “nông nghiệp”, cũng được xem như khu vực thứ nhất. Khu vực này được chính phủ hỗ trợ mạnh.

Khoảng 40% dân số được làm việc trong “công nghiệp, thương mại và nghề thủ công”, cũng được xem như khu vực thứ hai. Khu vực này gồm có “công nghiệp máy móc và kim loại”, “công nghiệp đồng hồ” và “công nghiệp dệt”. Tất cả các ngành công nghiệp này xuất khẩu nhiều sản phẩm ra nước ngoài và chịu ảnh hưởng nhiều bởi sự đắt đỏ của đồng Franc Thụy Sĩ. Thực tế rằng Thụy Sĩ không thuộc EU cũng góp phần làm chậm xuất khẩu của Thụy Sĩ.

Hơn 50% dân số được làm việc trong các lĩnh vực “dịch vụ”, cũng được xem như khu vực thứ ba. Khu vực này gồm có ngân hàng, bảo hiểm, du lịch và vân vân. Ngân hàng là một trong những ngành kinh doanh quan trọng nhất ở Thụy Sĩ.


Các công ty


Hầu hết các công ty đều là công ty nhỏ và vừa. Năm 2001, hơn 99% doanh nghiệp có ít hơn 250 nhân viên toàn thời gian, sử dụng khoảng hay phần ba tổng lực lượng lao động. Khoảng 88% là các doanh nghiệp rất nhỏ với ít hơn 10 nhân viên: các công ty này cung cấp hơn một phần tư tổng số việc làm.

Công ty lớn nhất là Nestle, công ty thực phẩm lớn nhất trên thế giới. Công ty có khoảng 250.000 nhân viên, hơn 97% trong số đó làm việc ngoài Thụy Sĩ.


Cơ khí và kỹ thuật điện


Các ngành công nghiệp cơ khí và kỹ thuật điện - được biết đến theo tiếng Đức là các ngành MEM – là một trong những nhánh chính của nền kinh tế Thụy Sĩ.

Các ngành công nghiệp bao gồm bốn lĩnh vực chính: khai khoáng, kỹ thuật cơ khí và phương tiện xây dựng, kỹ thuật điện và điện tử, và dụng cụ chính xác. Theo quy mô của lực lượng lao động và giá trị xuất khẩu thì giá trị xuất khẩu lớn hơn rất nhiều.


Dược phẩm


Thụy Sĩ nằm trong số những nhà sản xuất hàng đầu thế giới về hóa chất và dược phẩm. Ngành công nghiệp hóa chất tập trung vào nguyên liệu của thuốc nhuộm và nước hoa và hương liệu thực phẩm. Trung tâm của ngành tại Basel. Các công ty dược phẩm lớn nhất là Roche và Novartis (thành lập năm 1996 bởi sự hợp nhất Ciba-Geigy và Sandoz).

Các ngành hóa chất và dược phẩm xuất khẩu 85% sản lượng.


Đồng hồ


Thụy Sĩ là một trong những nhà sản xuất đồng hồ lớn nhất thế giới. Tính theo giá trị, Thụy Sĩ chiếm khoảng một nửa sản lượng toàn thế giới. Giá trung bình của một chiếc đồng hồ xuất khẩu từ Thụy Sĩ năm 2006 là 410 đôla. Nhưng cùng với dòng sản phẩm xa xỉ, Thụy Sĩ cũng nổi tiếng với dòng đồng hồ nhựa bán chạy nhất thế giới: đồng hồ Swatch.

Ngành công nghiệp đồng hồ xuất khẩu 95% số sản phẩm, theo tổng kết của Phòng xúc tiến xuất khẩu OSEC.

Một chiếc đồng hồ xa xỉ chứa đựng hơn 300 bộ phận. Một khối lượng lớn suy nghĩ và lao động tỉ mỉ được kết hợp để lắp ráp những cơ cấu phức tạp nhất vào trong những chiếc vỏ nhỏ nhất. Các vật liệu dùng để sản xuất một chiếc đồng hồ chỉ chiếm một phần chi phí của sản phẩm hoàn thiện. Chi phí vật liệu thô của một chiếc đồng hồ bán giá 100SFr hoặc 3000SFr không khác nhau nhiều. Nhưng lao động dành cho thiết kế, sản xuất, và tiếp thị chiếc đồng hồ tạo ra một sự khác biệt lớn.

Một chiếc đồng hồ là một ví dụ tốt về khái niệm giá trị gia tăng chi phối nền kinh tế Thụy Sĩ. Sản xuất theo số nhiều những hàng tiêu dùng rẻ tiền không phải là một lựa chọn cho các doanh nghiệp Thụy Sĩ bởi vì sẽ đòi hỏi nhập khẩu nhiều các nguyên liệu thô đắt tiền mà giá trị xuất khẩu không tăng nhiều để cạnh tranh trên các thị trường thế giới.


Ngân hàng


Các ngân hàng và định chế tài chính đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Thụy Sĩ. Đồng franc Thụy Sĩ là một trong những đồng tiền ổn định nhất thế giới. Thị trường vốn Thụy Sĩ là một trong những thị trường quan trọng nhất của thế giới. Hai ngân hàng lớn – UBS và Credit Suisse – là những ngân hàng hàng đầu.


Ngân hàng tư nhân


Người Thụy Sĩ là những người đứng đầu trên thế giới về “nghiệp vụ ngân hàng tư nhân”, hay quản lý tài sản cho các cá nhân. Họ quản lý 35% của tất cả các quỹ tư nhân và quỹ từ thiện nước ngoài. Nghiệp vụ ngân hàng tư nhân cung cấp hơn một phần ba các lợi nhuận của UBS và Credit Suisse.

Một số ngân hàng nước ngoài, bao gồm Deutsche Bank và Barclays, đã biến Geneva thành trung tâm của các hoạt động ngân hàng tư nhân của họ.


Ngân hàng bang


Thụy Sĩ có 24 ngân hàng bang, do các bang riêng rẽ làm chủ hoặc toàn bộ hoặc với một tỷ lệ góp vốn chiếm đa số. Họ vận hành chủ yếu tại các bang nhà, nhưng được liên kết với nhau trên toàn quốc trong Nhóm các ngân hàng bang. Các ngân hàng bang chiếm gần một phần ba trong kinh doanh ngân hàng tại Thụy Sĩ.


Các ngân hàng hợp tác


Thụy Sĩ cũng có một mạng lưới các ngân hàng hợp tác, mạng Raiffeisen, với 537 chi nhánh chủ yếu tại các thành phố và làng nhỏ hơn. Mỗi chi nhánh được tự trị với các thành viên của nó tham gia vào việc ra quyết định và chịu trách nhiệm chung về của cải của chi nhánh họ.


Du lịch


Du lịch là một nguồn thu nhập quan trọng. Các khách du lịch từ nước ngoài chi tiêu 13,1 tỉ franc tại Thụy Sĩ trong năm 2004, và khách du lịch nội địa khoảng 9,7 tỉ.

Các số liệu ban hành bởi WTO xếp hạng Thụy Sĩ thứ 15 trong số các điểm đến trên thế giới về kiếm tiền từ du lịch năm 2005, và thứ 14 về số lượng khách du lịch, ước tính khoảng 10,5 triệu.

Các khách du lịch từ nước ngoài chiếm khoảng ba phần trăm GDP của Thụy Sĩ năm 2004. Du lịch là nguồn thu quan trọng thứ ba trong thu nhập xuất khẩu, sau ngành công nghiệp kim loại và máy móc và ngành công nghiệp hóa chất.


Bảo hiểm


Người Thụy Sĩ chi tiêu rất nhiều tiền cho bảo hiểm. Một vài là bắt buộc – như các đóng góp hưu trí quốc gia, quỹ hưu trí và bảo hiểm thất nghiệp, được khấu trừ tại nguồn từ lương, và bảo hiểm sức khỏe mà mọi cư dân phải tự thu xếp cho cá nhân. Chủ nhà nói chung phải mua bảo hiểm trách nhiệm cá nhân như là một điều kiện của việc cho thuê. Nhìn toàn bộ trong năm 2004, một gia đình Thụy Sĩ trung bình tiêu trên 22% ngân sách gia đình vào bảo hiểm. Người Thụy Sĩ là những người đứng đầu thế giới về chi tiêu cho bảo hiểm cá nhân.

Mặc dù vậy, các công ty bảo hiểm kiếm hơn nửa số tiền ở nước ngoài. Thụy Sĩ là nhà xuất khẩu bảo hiểm hàng đầu Châu Âu.

Tái bảo hiểm (bảo hiểm cho các nhà bảo hiểm), cũng là một dịch vụ quan trọng, với nhiều hoạt động kinh doanh ở nước ngoài.


Các công ty thương mại


Thụy Sĩ là nhà của một số các công ty thương mại quốc tế lớn, các công ty có hoạt động kinh doanh bao gồm mua các hàng hóa và bán chúng cho các bên thứ ba. Các hàng hóa, chủ yếu là ngũ cốc, đường, vải bông, dầu và khí, không bao giờ đi vào Thụy Sĩ. Các công ty này không được niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Các công ty thương mại thường có những đóng góp quan trọng đối với nền kinh tế địa phương, cung cấp việc làm và nộp thuế.

Nhiều công ty thương mại đang chịu áp lực trong những năm gần đây. Cuộc cách mạng trong công nghệ thông tin cuối thế kỷ 20 làm cho thương mại trở nên minh bạch hơn. Thậm chí những nhà nông nhỏ có thể tìm kiếm giá thị trường thế giới cho vụ thu hoạch của họ, và người mua ngày càng thích tiếp cận trực tiếp với các nhà sản xuất.


Các nguồn nhân lực


Trong những năm gần đây, Thụy Sĩ đang trở thành một trung tâm về quản lý các nguồn nhân sự. Hãng tuyển dụng và cung cấp nhân sự hàng đầu thế giới, Adecco, có trụ sở tại Thụy Sĩ, trong khi một số công ty đã chuyển các dịch vụ quản lý nhân viên của họ tới Geneva, hoặc sử dụng các dịch vụ của các văn phòng tư vấn đặt tại Geneva.


Vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy và hậu cần


Bốn phần trăm của Tổng sản phẩm quốc nội của Thụy Sĩ đến từ khu vực vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy và hậu cần. Riêng khu vực này sử dụng khoảng 130.000 người.


Vận chuyển hàng hóa đường thủy


Ngạc nhiên rằng là một đất nước bao bọc bởi đất, Thụy Sĩ có một đội tàu chở hàng, với khoảng 30 chiếc vận chuyển hàng hóa đủ mọi thể loại ngoại trừ vũ khí, hoạt động theo hợp đồng ở bất kỳ đâu trên thế giới. Cảng đăng ký của họ tại Basel.

Đội tàu - hiện đại nhất trên thế giới - chiếm khoảng 0,1% khối lượng chuyên chở toàn thế

giới.


Hậu cần


Với sự gia tăng toàn cầu hóa vận tải hiệu quả đang trở nên ngày càng quan trọng. Thụy Sĩ là nhà của hai trong số các công ty hậu cần lớn trên thế giới, Panalpina và Kuehne và Nagel cũng như vô số các công ty nhỏ. Basel là trung tâm của khu vực này.

Thụy Sĩ là một trong ít quốc gia trên thế giới đào tạo các chuyên gia cho ngành công nghiệp hậu cần, thay vì trông chờ họ học tập trong công việc thực tế.


Nông nghiệp


Nông nghiệp cũng là một phần quan trọng của nền kinh tế. Nhưng sản lượng của những người nông dân Thụy Sĩ không đủ đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi người, bởi vậy Thụy Sĩ phải dựa vào hàng hóa nhập khẩu từ các nước khác.

Số lượng các trang trại nơi mà nông nghiệp là nguồn thu nhập chính tiếp tục giảm. Sự gia tăng khoảng cách thu nhập giữa công nghiệp và nông nghiệp đang không khuyến khích những người trẻ tuổi đi vào lĩnh vực nông nghiệp.

Trong những năm gần đây các thay đổi trong xã hội đã tạo ra một vấn đề khác đối với những người nông dân: họ ngày càng khó tìm vợ hơn. Phụ nữ ngày nay có nhiều cơ hội để đạt được các bằng cấp hơn và mở ra những hình thức công việc khác cho họ. Bất chấp thực tế rằng công nghệ hiện đại đã giúp loại bỏ một số việc lao động cực nhọc khỏi ngành nông nghiệp, nhiều phụ nữ không sẵn lòng với sự cách ly ở nông thôn. Không có vợ cũng có nghĩa là không có trẻ con để thừa kế trang trại.


Năng lượng


Là một quốc gia nhỏ nằm giữa Châu Âu, chính sách năng lượng của Thụy Sĩ được liên kết với chính sách của các nước láng giềng. Thụy Sĩ là một phần của lưới điện Tây Âu. Vào mùa hè Thụy Sĩ có thể xuất khẩu điện năng, nhưng vào mùa đông nói chung là phải nhập khẩu điện. Năm 2005 lần đầu tiên Thụy Sĩ nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu.

Hai nguyên tắc chủ yếu của chính sách năng lượng Thụy Sĩ là xúc tiến sử dụng các nguồn năng lượng có thể tái sinh và khuyến khích tính hiệu quả.


Vận tải


Vận chuyển quá cảnh


Thụy Sĩ nằm trên còn đường nối miền bắc và miền nam Châu Âu, nhưng dãy núi Alps gây khó khăn cho việc quá cảnh cho tới khi các được hầm xuyên núi được xây dựng. Đường hầm xe lửa Gotthard, dài 15 km (9,3 dặm), được xây dựng từ hơn 100 năm trước. Hầm đường bộ Gotthard, được mở năm 1980, đã từng là đường hầm dài nhất trên thế giới 16,5 km (10 dặm) cho tới khi đường hầm Laerdal của Na-uy (24,5 km/ 15 dặm) được mở tháng 11/2000.

Vị trí như là một đất nước quá cảnh của Thụy Sĩ giúp cho lượng vận chuyển hàng hóa gia tăng chưa từng thấy. Khi Châu Âu tiến lại gần nhau hơn, biên giới không còn là một rào cản thương mại. Kết quả là mạng lưới đường bộ phải chịu áp lực nặng, và hình thành những đoàn xe khổng lồ nối đuôi nhau, đặc biệt trên tuyến đường Gotthard.


Đường sá và di chuyển nội địa


Đất nước được bao phủ bởi một mạng lưới đường bộ dày đặc, mặc dù địa hình tạo ra nhiều khó khăn. Các đèo và núi phải được vượt qua và các cây cầu, các đường hầm phải được xây dựng. Rất nhiều tiền được đầu tư xây dựng đường xá và duy trì tiêu chuẩn cao.

Năm 2005 Thụy Sĩ có 1.756 km (1020 dặm) đường xe cơ giới, tương đương với trên 42 km trên 1000 km2 (68 dặm trên 1000 dặm vuông). Mạng lưới dày đặc nhất ở Châu Âu nằm ở Hà Lan, với 57,5 km (92,5 dặm trên 1000 dặm vuông).

Sở hữu xe hơi đang gia tăng: năm 2006 cứ 1000 người có 516 xe cá nhân, cao hơn nhiều mức trung bình của Châu Âu. (So với trên 800 ở Mỹ). Số liệu phát hành năm 2006 cho thấy xe tư nhân chiếm hai phần ba số kilomet chở hành khách.

Lái xe không nhất thiết có nghĩa là sở hữu xe. Hội hợp tác xe lưu động, ra đời năm 1997, đã tỏ ra rất phổ biến: họ sở hữu xe các loại ở tất cả các thành phố, và các thành viên có thể đặt một chiếc khi họ cần. Kế hoạch này đã thành công tại Thụy Sĩ hơn tại bất cứ quốc gia nào.

Nhưng người Thụy Sĩ thậm chí có thể đi đây đó mà không cần lái xe. Các xe buýt trạm nổi tiếng của Thụy Sĩ là một phần quan trọng của hệ thống vận tải công cộng, với một mạng lưới 10.363 km (6.439 dặm). Các công ty xe buýt tư nhân bổ sung một mạng lưới 5.200 km (3.200 dặm). Các xe buýt liên kết với giờ đến và xuất phát của tàu hỏa, và phục vụ các ngôi làng ở vùng xa, thậm chí đôi khi chúng chỉ chở duy nhất một hành khách.

Các dịch vụ tàu thuyền theo lịch trình hoạt động trên nhiều hồ và sông. Trong khi hầu hết hành khách là khách du lịch, có một tuyến rất đông khách qua lại thường xuyên trên hồ Geneva nối giữa Evian tại Pháp và Lausanne tại Thụy Sĩ. Và có một tuyến phà chở ô tô nổi tiếng giữa Thụy Sĩ và Đức trên hồ Constance.


Đường sắt


Mạng lưới tàu hỏa rất dày đặc: trung bình 122km đường ray trên 1000 km2 (196 dặm trên 1000 dặm vuông). So sánh với mức trung bình của Châu Âu là 46 (74 dặm trên 1000 dặm vuông). Bất chấp các núi và đèo, đường sắt là một hình mẫu của sự chính xác và đúng giờ.

Đường sắt Liên bang Thụy Sĩ (SBB) vận chuyển khoảng 285 triệu hành khách và khoảng 60 triệu tấn hàng hóa năm 2006. Tổng chiều dài của mạng lưới SBB là 3.163 km (1.965 dặm) – và người Thụy Sĩ tiếp tục xây dựng, trong xu hướng chung là từ bỏ các ranh giới.

Ngoài SBB, Thụy Sĩ có một số đường sắt tư nhân, những người vận hành một mạng lưới tổng cộng trên 2.000 km (khoảng 1250 dặm). Năm 2003 họ vận chuyển khoảng 169 triệu hành khách. Cũng có 150 km (93 dặm) đường sắt trên núi (đường sắt răng cưa và đường sắt leo núi có dây cáp kéo các toa)

Các tàu hỏa được phối hợp nhịp nhàng với các loại hình vận chuyển khác – xe buýt và tàu thuyền.


Hàng không


Sân bay chính của Thụy Sĩ nằm tại Kloten, ngay bên ngoài Zurich. Sân bay được vận hành bởi công ty tư nhân Unique. Cũng có các sân bay chính liền kề với Geneva (Cointrin) và Basel (Euroairport), sân bay được chia với thành phố thuộc Pháp ở Mulhouse và thành phố của Đức ở Freiburg. Cả hai được xây một phần trên lãnh thổ Pháp. Bern và Lugano có các sân bay nhỏ hơn từ đó các chuyến bay có thể bay tới một số các thành phố Châu Âu. Thêm vào đó có một số các sân bay dân sự nhỏ khắp Thụy Sĩ. Sân bay ở Samedan, gần St. Moritz tại bang Graubunden, là sân bay cao nhất Châu Âu, ở độ cao 1.707 mét (5.600 feet) trên mực nước biển.

Kloten không chỉ là sân bay hành khách lớn nhất, nó cũng xử lý ba phần tư lượng hàng hóa vận chuyển theo đường hàng không của quốc gia.


Công nhân và công việc


Lương cao, giờ làm việc dài


Người Thụy Sĩ làm việc rất nhiều, trung bình 41,6 giờ một tuần đối với những người làm việc toàn thời gian năm 2005. Nhân viên làm việc toàn thời gian chỉ được nghỉ phép 20 ngày làm việc một năm. Số này ít hơn ở nhiều quốc gia Châu Âu. Những ngày nghỉ lễ thay đổi theo các bang, nhưng nói chung có khoảng 8 hoặc 9.


Thất nghiệp


Cuối năm 2007 tỷ lệ thất nghiệp đứng ở mức 2,8%.

Tỷ lệ thất nghiệp thay đổi theo vùng: các khu vực nói tiếng Pháp và Ý có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn so với các khu vực nói tiếng Đức. Phụ nữ có xu hướng bị tác động mạnh hơn đàn ông và những người nước ngoài bị ảnh hưởng nhiều hơn người Thụy Sĩ.


Người lao động và người được hưởng lương hưu


Tuổi nghỉ hưu của đàn ông là 65, và phụ nữ là 64.

Tại Thụy Sĩ, cũng như tại nhiều quốc gia phát triển khác, số người lao động đang giảm trong khi số người hưởng trợ cấp đang gia tăng. Đây là một lý do để lo lắng, vì các khoản trợ cấp và chăm sóc của những người già được trả bởi những đóng góp bảo hiểm xã hội của những người đang lao động. Cứ mỗi người nghỉ hưu hiện nay chỉ có bốn người đang làm việc.


Người lao động nước ngoài


Trong bốn người làm công ăn lương tại Thụy Sĩ có một là người nước ngoài. Nền kinh tế Thụy Sĩ không thể hoạt động nếu thiếu những người lao động nước ngoài. Chủ yếu là những người làm việc chân tay và trợ giúp được cần đến, ví dụ trong thương mại xây dựng và kinh doanh khách sạn. Các chuyên gia nước ngoài cũng cần thiết: các kỹ thuật viên, các kỹ sư, các nhà khoa học và các nhà khoa học máy tính.


Nhân công EU


Thỏa thuận giữa Thụy Sĩ và EU về di chuyển tự do của mọi người đã làm tăng số người mang quốc tịch EU làm việc tại Thụy Sĩ. Số lượng lớn nhất đến từ Đức, nơi mà Thụy Sĩ giờ đây là đất nước đầu tiên được lựa chọn đối với những người di cư tương lai. Hầu hết đều có bằng cấp cao, làm việc trong lĩnh vực quản lý, giáo dục và y học. Số lượng người Đức ở Thụy Sĩ tăng khoảng 45% từ 2001 đến 2005.

Dòng người tìm việc từ các nước EU đã gia tăng đáng kể năm 2004, khi mà luật cho phép những người mang quốc tịch Thụy Sĩ được hưởng ưu tiên trong công việc hơn những người nước ngoài bị bãi bỏ.

Những người đi lại qua biên giới hình thành một dạng quan trọng trong số những người lao động nước ngoài. Ban đầu họ bị giới hạn sống và làm việc trong những khu vực biên giới xác định, nhưng dần dần các hạn chế này được tháo bỏ, giờ đây họ được phép làm việc ở bất kỳ đâu tại Thụy Sĩ.

Hơn một nửa số người lao động này sống ở Pháp, trong khi Đức và Ý mỗi nước chiếm khoảng một phần năm. Hầu hết trong số họ làm việc tại tây bắc Thụy Sĩ, khu vực hồ Geneva, và bang Ticino.


Xu hướng mới về nơi làm việc


Tỷ lệ người làm việc trong lĩnh vực công nghiệp đã giảm xuống gần một nửa trong những năm 1960 và tới gần một phần tư vào đầu thế kỷ 21. Trong khi đó, tỷ lệ được tuyển dụng trong khu vực dịch vụ đã tăng từ 39% lên 71%.

Ngày càng ít các công việc giản đơn ở Thụy Sĩ: công nhân phải linh hoạt và thích ứng và luôn sẵn sàng nâng cao các bằng cấp của họ.

Người Thụy Sĩ rất coi trọng chất lượng cuộc sống: một môi trường làm việc tốt, thời gian làm việc linh hoạt, thời gian cho gia đình, nhiều thời gian tự do hơn và sự độc lập.


Lương và chi phí cuộc sống


Thống kê phát hành bởi EU năm 2002 cho thấy Thụy Sĩ là nước đắt đỏ thứ ba ở Châu Âu, sau Na Uy và Iceland. Người Thụy Sĩ phải trả giá rất cao cho thịt, dầu ăn, cá và rau.

Tuy nhiên, lương ở Thụy Sĩ có tính đến chi phí cuộc sống. Một khảo sát về 71 thành phố trên khắp thế giới thực hiện bởi Ngân hàng Thụy Sĩ UBS năm 2006 cho thấy thời gian để các công nhân tại Thụy Sĩ kiếm đủ để mua một ổ bánh mì và một chiếc hamburger ít hơn ở nhiều quốc gia khác.


Chi tiêu


Thức ăn và quần áo chiếm một tỷ lệ nhỏ chưa từng thấy trong ngân sách gia đình, giảm từ 16% năm 1992 xuống 12% năm 1998 và dưới 11% năm 2005.

Nhà cửa đắt đỏ, và hầu hết mọi người sống trong nhà thuê. Thụy Sĩ lâu nay có tỷ lệ người sở hữu nhà thấp nhất Châu Âu: năm 2000 chỉ có 34,6% ngôi nhà thuộc về người sống trong đó.

Thuế khá thấp so với các quốc gia lân cận. Mặt khác, người Thụy Sĩ chi tiêu rất nhiều vào bảo hiểm, bao gồm bảo hiểm sức khỏe bắt buộc, chỉ riêng nó đã chiếm hơn 5,6% chi tiêu của họ. Họ tiêu 5% khác vào bảo hiểm cá nhân; mọi người càng có nhiều hơn thì họ càng muốn hoặc phải bảo hiểm nhiều hơn.

Tính toán tương đối một lần nữa, một gia đình Thụy Sĩ chi tiêu thu nhập của họ như sau:

  • 25-35% dành cho thuê nhà  
  • 10-20% dành cho bảo hiểm (sức khỏe, trách nhiệm dân sự, trộm cắp, ô tô), các khoản tiết kiệm và chăm sóc sức khỏe
  • 15-20% dành cho ăn uống (tại nhà và nhà hàng)
  • 20-40% dành cho các chi phí khác (không phải ăn uống, bảo dưỡng ô tô, hóa đơn điện thoại, nghỉ lễ, các hoạt động giải trí)
  • 5-15% dành cho các loại thuế (các loại thuế khác nhau khá nhiều giữa các bang)

Giáo dục


Giáo dục tại Thụy Sĩ 


Thụy Sĩ tự hào về nền giáo dục tiêu chuẩn cao của họ. Là một đất nước có ít tài nguyên thiên nhiên, sự thịnh vượng của quốc gia phụ thuộc rất lớn vào năng lực trí tuệ. Hầu hết mọi người tiếp tục học tập sau những năm tháng của quá trình giáo dục bắt buộc, và nhiều người tham gia các khóa học nâng cao trong suốt cuộc đời họ. Trong lúc đó, hệ thống giáo dục phải đối mặt với những thách thức mới trong cuộc đối đầu với những sự thay đổi của xã hội và thế giới.


Tổng quan


Hệ thống giáo dục Thụy Sĩ

Thụy Sĩ có một hệ thống giáo dục phi tập trung hóa cao. Bởi vì Thụy Sĩ không có các nguồn tài nguyên thiên nhiên, giáo dục và kiến thức trở thành những nguồn tài nguyên rất quan trọng. Do đó Thụy Sĩ cần phải có một trong những hệ thống giáo dục tốt nhất thế giới. Do các bang chịu trách nhiệm về các dịch vụ giáo dục (mẫu giáo, các trường tiểu học và phổ thông, các trường đại học), sự giáo dục có thể rất khác nhau giữa các bang. Ví dụ, một số bang bắt đầu dạy ngoại ngữ đầu tiên từ lớp bốn, trong khi các bang khác bắt đầu từ lớp bẩy. Điều đó có thể dẫn tới một cơn ác mộng đối với học sinh giữa các bang. Phần tài chính cũng chủ yếu do các bang cung cấp.

Tại Thụy Sĩ, hầu hết học sinh đi học ở các trường công. Các trường tư thục thường đắt đỏ. Các trường công bao gồm trường tiểu học, trường trung học và đại học. Hầu hết các thành phố tự trị có nhà trẻ, trường tiểu học và trung học. Hầu hết các bang có ít nhất một trường trung học. Có tổng cộng mười hai trường đại học ở Thụy Sĩ, mười trường thuộc về các bang và hai trường do liên bang quản lý.

Thụy Sĩ không có một bộ trưởng giáo dục  Tuy nhiên, một số mặt mang tính tổ chức của hệ thống giáo dục được áp dụng trên toàn quốc, bao gồm thời gian của năm học và số năm học bắt buộc.

Mỗi bang đều có người đứng đầu về lĩnh vực giáo dục. Tất cả những người này cùng nhau tạo nên Hội đồng các Bộ trưởng Giáo dục Bang của Thụy Sĩ (EDK theo tiếng Đức). EDK đóng vai trò quan trọng trong việc thảo luận và phối hợp chính sách giáo dục, và trong việc nhấn mạnh một số giá trị quan trọng.

Giáo dục nhà trường bắt buộc

Tổng quan  

Hệ thống giáo dục Thụy Sĩ được chia thành bốn cấp: mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở (secondary I) và trung học phổ thông (secondary II), đại học và trên đại học.

Cấp tiểu học và trung học cơ sở là bắt buộc, và kéo dài trong chín năm. Mặc dù tồn tại các trường tư, nhưng trẻ em hầu hết đều theo học tại các trường công lập.

Cấp mẫu giáo được cung cấp tài chính chủ yếu bởi địa phương. Tùy theo từng bang, trẻ em có quyền được học mẫu giáo trong một hoặc hai năm trước khi bắt đầu giai đoạn giáo dục bắt buộc.

Độ tuổi bắt đầu học tiểu học khác nhau tùy theo bang; trẻ nhất là 6 tuổi. Số lượng năm học cũng khác nhau: tại hầu hết các bang là 6 năm, nhưng có một số bang là 5 hoặc 4 năm.

Trung học cơ sở   Secondary I

Trung học cơ sở là cấp thứ hai của giáo dục bắt buộc. Các học sinh được cung cấp những kiến thức tổng hợp cơ bản. Có vài loại trường trung học cơ sở. Một số trường cung cấp các kiến thức có tính thực tiễn hơn, chuẩn bị cho trẻ học nghề trong tương lai; các trường khác lại mở rộng kiến thức tổng hợp của học sinh, giúp họ tiếp tục theo học ở cấp cao hơn. Cấu trúc của sự giáo dục ở cấp này – và theo tên của các loại trường khác nhau – thay đổi khá nhiều giữa các bang.

Các trường công lập có danh tiếng khá tốt. Trong các bài kiểm tra kiến thức học sinh quốc tế PISA năm 2000 và 2003 các trường công lập đạt kết quả tốt hơn so với kết quả của các trường dân lập.

Do đại đa số trẻ em - tới 95% - theo học tại trường công lập địa phương, những trường này đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa những đứa trẻ với những điều kiện văn hóa, xã hội và ngôn ngữ khác nhau lại gần và hòa nhập với nhau.

Là một đất nước với bốn ngôn ngữ quốc gia,  Thụy Sĩ  rất coi trọng việc sử dụng đa ngôn ngữ. Trong quá trình giáo dục bắt buộc, trẻ em không chỉ học tiếng mẹ đẻ, mà còn học một ngôn ngữ quốc gia khác và tiếng Anh.

Giai đoạn sau giáo dục bắt buộc 

Tổng quan   

Từ độ tuổi 16, những học sinh muốn tiếp tục sự nghiệp học tập sẽ chuyển lên trung học phổ thông, thường kéo dài 3-4 năm. Đại đa số những người trẻ tuổi theo học một loại khóa trung học phổ thông nào đó. Trung học phổ thông cung cấp các khóa dạy nghề để trực tiếp tham gia vào thị trường lao động, hoặc giúp học sinh chuẩn bị lên học đại học.

Đào tạo nghề  

Hơn hai phần ba số người từ 16-21 tuổi chọn học nghề, bao gồm cả thực hành và lý thuyết.

Đại đa số những khóa học nghề như thế kéo dài 3 hoặc 4 năm, tùy theo lĩnh vực được lựa chọn. Học viên sử dụng hầu hết thời gian làm tại cho một công ty được chấp thuận nhưng đến trường dạy nghề học 1-2 ngày mỗi tuần. Học viên có thể lựa chọn một trong 300 hạng mục đào tạo nghề.

Những học viên vượt qua kỳ kiểm tra cuối cùng vào cuối khóa đào tạo cơ bản được trao một chứng chỉ liên bang được công nhận trên toàn quốc.

Từ 1993 các học viên có thể tham dự một bài thi lấy chứng chỉ tốt nghiệp trường kỹ thuật giúp cho họ có thể tiếp tục theo học tại một trường Đại học Khoa học ứng dụng chuyên ngành.

Chuẩn bị cho giáo dục đại học  

Khoảng 20% thanh niên Thụy Sĩ tiếp tục chương trình trung học tại một loại trường được gọi theo tiếng Đức như là Gymnasium và theo tiếng Pháp như là Gymnase cung cấp chương trình đào tạo tổng hợp lấy chứng chỉ tốt nghiệp, hoặc Matura, giúp họ đủ tiêu chuẩn vào trường đại học hoặc một trong hai Viện Kỹ thuật Liên Bang. Năm 2001, 18,5% số thanh tiên Thụy Sĩ 19 tuổi đạt được chứng chỉ Matura.

Có một loại hình thứ hai về trường đào tạo phổ thông ở cấp trung học phổ thông chuẩn bị các kiến thức cho các học sinh muốn tiếp tục học cao hơn trong các lĩnh vực y tế, hoạt động xã hội và nghệ thuật.

Giáo dục đại học và trên đại học

Tổng quan 

Thụy Sĩ cung cấp nhiều lựa chọn cho các sinh viên ở cấp giáo dục đại học và trên đại học. Có thể phân biệt giữa đào tạo tổng hợp và đào tạo chuyên ngành, hay phân biệt giữa các trường đại học tổng hợp và các trường kỹ thuật.

Đào tạo chuyên ngành chia thành hai cấp. Ở một cấp, các trường đại học khoa học ứng dụng đào tạo ở cấp đại học. Ở cấp kia, các trường cao đẳng kỹ thuật cung cấp các bằng cấp nghề và chuyên ngành. Hầu hết các trường ở cấp thứ hai này được hỗ trợ bởi các hiệp hội thương mại chuyên ngành có trách nhiệm tạo dựng và phê chuẩn các cuộc kiểm tra.

Các trường đại học tổng hợp 

Có 5 trường đại học tổng hợp trong khu vực nói tiếng Đức của Thụy Sĩ (Basel, Bern, Zurich, Lucerne, St.Gallen), và 3 trong khu vực nói tiếng Pháp (Geneva, Lausanne, Neuchatel). Fribourg University sử dụng song ngữ tiếng Đức và tiếng Pháp. Từ 1996 có một trường đại học ở khu vực nói tiếng Ý Ticino, có trụ sở chính ở Lugano.

Viện Công nghệ Liên bang ở Zurich (ETHZ) và Lausanne (EPFL).

Chính phủ điều hành các Viện Công nghệ, trong khi các trường đại học truyền thống được quản lý ở cấp của các bang liên quan.

Các Trường đại học Khoa học Ứng dụng  

Hệ thống các trường đại học khoa học ứng dụng (UAS) được thành lập năm 1993 chuyên về đào tạo nghề cấp cao và tiếp tục mở rộng các lĩnh vực đào tạo.

Hệ thống cung cấp giáo dục ở cấp độ đại học bao gồm các kinh nghiệm làm việc thực tiễn. 15 trường sư phạm cũng thuộc về UAS.

Lựa chọn UAS thường phổ biến hơn với nam giới so với phụ nữ, mặc dù ngành sư phạm, y tế và hoạt động xã hội đã được thêm vào danh sách các môn học của UAS, và số lượng phụ nữ đã gia tăng đáng kể. Tính tổng thể, số sinh viên UAS là phụ nữ năm 2003-4 là 39%, nhưng trong các lĩnh vực công nghệ, xây dựng, và khoa học đời sống, phụ nữ chỉ chiếm 10% trong tổng số sinh viên UAS.

Hầu hết các trường thuộc UAS được quản lý ở cấp liên bang.

Các trường cao đẳng kỹ thuật   

Đào tạo nghề tại các trường cao đẳng kỹ thuật cũng là một phần của giáo dục cấp đại học. Có hơn 100 trường như vậy được quản lý ở cấp liên bang và các sinh viên tốt nghiệp sẽ có các kỹ năng để trở thành các quản lý cấp trung.

Giáo dục nâng cao  

Nhiều người tiếp tục làm mới và cải thiện các kỹ năng nghề nghiệp của họ sau khi hoàn tất các chương trình giáo dục chính quy. Các khóa học được cung cấp chủ yếu bởi các tổ chức tư nhân, lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận. Các khóa học phi lợi nhuận có thể do các tổ chức thương mại hoặc các tổ chức chuyên ngành tổ chức. Các trường đại học và các viện đào tạo khác cũng cung cấp một số chương trình giáo dục nâng cao.

Giáo dục nâng cao có thể thực hiện dưới dạng các khóa học ở nhà với sách giáo khoa, hoặc băng đĩa hình hoặc các chương trình trợ giúp bởi máy tính.

Văn hóa & Giải trí


Văn hóa Thụy Sĩ rất đa dạng và các phong tục truyền thống đã phản ánh sự đa dạng đó. Các lễ hội diễn ra quanh năm và trên khắp đất nước Thụy Sĩ làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân cũng như lôi cuốn khách du lịch.

 

Văn hóa Thụy Sĩ

Văn hóa Thụy Sĩ rất đa dạng và các phong tục truyền thống đã phản ánh sự đa dạng đó. Các lễ hội diễn ra quanh năm và trên khắp đất nước Thụy Sĩ làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân cũng như lôi cuốn khách du lịch.

Các chương trình ca nhạc được tổ chức ở khắp nơi với các dòng nhạc từ dân gian, cổ điển tới rock, pop và jazz. Các lễ hội chính trong năm gồm có: Advent và Christmas, Carnival, Lễ Phục Sinh, và Ngày Quốc Khánh. Tùy theo mùa có các lễ hội tại các địa phương khác nhau, như các lễ hội trong mùa đông (Trychle tại Meiringen, Epiphany, Secular festivals, Silvesterkläuse, Vogel Gryff tại Kleinbasel và các phong tục khác); các lễ hội mùa xuân ở Zurich; vào cuối mùa hè có các lễ hội tại nhiều khu vực ở vùng núi Alps với sự tham gia của đàn bò và gia súc; các lễ hội mùa thu được tổ chức ở nhiều bang mừng cho một mùa thu hoạch và dự trữ cho mùa đông. Lễ hội bia lớn nhất trong năm diễn ra vào cuối tháng 9 tại bang Neuchatel, ngoài ra còn nhiều lễ hội mang ý nghĩa lịch sử hay tôn giáo khác do các bang tổ chức. 

 

Giải trí ở Thụy Sĩ


Người Thụy Sĩ nổi tiếng là những người làm việc chăm chỉ, nhưng họ cũng thích những lúc rảnh rỗi như tất cả mọi người khác. Các hoạt động giải trí bao gồm từ các môn thể thao mệt nhoài tới thư giãn với gia đình và bè bạn. Nhiều người còn cống hiến một phần thời gian nhàn rỗi của họ cho các dịch vụ công cộng.


Thời gian nghỉ  


Người Thụy Sĩ làm việc rất nhiều, nhưng họ cũng biết hưởng thụ thời gian nghỉ của họ. Sử dụng thời gian với bạn bè, đọc sách báo và đi dạo là những hoạt động phổ biến nhất. Hơn nửa dân số tham gia một vài hoạt động thể thao ít nhất một lần một tuần. Một nghiên cứu cho thấy xem tivi cũng là một hoạt động nghỉ ngơi được ưa chuộng.


Âm nhạc  


Thụy Sĩ nổi tiếng với các lễ hội âm nhạc, từ cổ điển cho tới rock.

Các liên hoan âm nhạc cổ điển hàng năm nổi bật gồm có các festival ở Lucerne trong kỳ lễ Phục Sinh và mùa hè, Menuhin Festival ở Gstaad và Snow and Symphony trong khu nghỉ dưỡng của St. Moriz.

Mùa hè có hàng loạt các festival nhạc rock và nhạc pop ngoài trời, thu hút các fan từ trong nước và nước ngoài: St Gallen, Montreux, Gurten ở Bern, Paléo, Rock Oz'Arènes ở Avenches và Montreux Jazz Festival.

Thậm chí trong mùa đông cũng có một chương trình nhạc rock ngoài trời: SnowpenAir ở Kleine Scheidegg tại Bernese Oberland.

Thụy Sĩ có hàng trăm ban nhạc kèn đồng và ban nhạc giao hưởng nghiệp dư. Họ có thể được tổ chức ở cấp thành phố hay làng, hoặc bởi các đoàn thể có liên quan tới nghề nghiệp. Họ thường biểu diễn trên đường phố trong những dịp lễ hội hay trong các cuộc thi.


Bảo tàng


Thụy Sĩ có khoảng 1.000 bảo tàng, một trong những mạng lưới bảo tàng dầy đặc nhất thế giới, với 1 bảo tàng cho mỗi 7.500 người.

 

Các hoạt động thể thao  

 

Khao khát phiêu lưu


Thụy Sĩ, với những ngọn núi, những cây cầu và các con đập là một quốc gia lý tưởng cho những ai mà sự giải trí là rời xa cuộc sống thường ngày và thử nghiệm những cảm giác, thách thức mới.

Một số du khách thích chơi trò nhảy “bungee”, nhảy từ một cây cầu hay một điểm cao nào đó chỉ với một dây cao su buộc vào người, hay một trò mới nguy hiểm hơn đang được ưa chuộng trong thời gian gần đây là nhảy từ một vách đá hoặc một tòa nhà cao sử dụng một chiếc dù. Vài thung lũng ở Thụy Sĩ rất thích hợp với môn thể thao này và thu hút những người chơi đến từ trong nước và quốc tế.


Các môn thể thao phối hợp


Mọi người ở các độ tuổi khác nhau có thể tham gia các môn thể thao ba môn phối hợp hay nhiều môn phối hợp, marathon và bán-marathon. Thụy Sĩ là một phần của các cuộc thi nhiều môn phối hợp quốc tế.


Đi bộ đường dài


Một mạng lưới 60.000 đường mòn bao phủ khắp đất nước. Đi bộ đường dài khá phổ biến, đặc biệt là ở khu vực nói tiếng Đức và những người lớn tuổi. Các đường mòn được cắm biển chỉ dẫn rất tốt. Các tấm biển màu vàng có ở khắp mọi nơi, với thông tin về các điểm đến hay tên của con đường, và thường có chỉ dẫn về thời gian đi bộ, khoảng cách và độ cao.


Các môn thể thao dưới nước


Trên nhiều bờ hồ ở Thụy Sĩ có những người tắm nắng hay bơi lội trong những ngày hè ấm ấp - một số khu vực có cả những bãi cát nhỏ, hoặc những thảm cỏ trên đó người ta trải những tấm khăn tắm. Thông thường, có những cầu tàu bằng gỗ dẫn ra những chỗ sâu hơn của hồ; đôi khi người ta lắp đặt cả những cầu nhảy.


Các môn thể thao mùa đông


Những người sống ở Thụy Sĩ không phải đi xa để tới một trong nhiều khu nghỉ dưỡng hấp dẫn cả khách du lịch nước ngoài đến quốc gia này trong mùa đông. Nhưng thể thao không bao giờ đứng yên, và trong những năm gần đây có một sự bùng nổ những môn thể thao mới và bằng những cách thức mới để tăng sự hấp dẫn của các môn thể thao này. 

Con người

Thụy Sĩ có dân số khoảng hơn 7,7 triệu người. Trong đó người nước ngoài chiếm khoảng 20% dân cư thường trú. Độ tuổi trung bình đang tăng lên, khi dân số sống thọ hơn và có ít trẻ con hơn

 

Người Thụy Sĩ


Phong cách sống đang thay đổi vì người Thụy Sĩ phải thích ứng với những yêu cầu mới.

Xu hướng nhân khẩu học

Từ năm 1972 có ít trẻ con được sinh ra hơn số cần thiết để tiếp tục tăng trưởng dân số. Năm 1998 số người chết đã nhiều hơn số được sinh ra - lần đầu tiên xảy ra kể từ năm 1871.

Theo một dự báo phát hành năm 2004, giữa năm 2003 và 2012 số lượng trẻ trong độ tuổi đi học (7-15) sẽ giảm khoảng 100.000

Từ 1993 số lượng cư dân Thụy Sĩ đã tăng chỉ bởi vì số lượng người nước ngoài nhập quốc tịch.

Người nước ngoài

So sánh với các nước Châu Âu khác, số lượng người nước ngoài nhập quốc tịch Thụy Sĩ là khá thấp, mặc dù cứ mười người trưởng thành có quyền công dân của Thụy Sĩ trong năm 2001 thì có một người nhập quốc tịch. Từ năm 1992 đến 2005 số lượng nhập quốc tịch đã tăng ba lần. Ba phần tư số người nhập quốc tịch Thụy Sĩ đến từ Châu Âu. Một phần ba đã được sinh ra tại Thụy Sĩ.

Một phần ba số người sống ở Thụy Sĩ trong năm đó hoặc là người nhập cư hoặc con cháu của những người nhập cư, theo thống kê của Văn phòng thống kê Liên Bang.

Tỷ lệ người nước ngoài trong dân cư thường trú cao, khoảng 20,7% năm 2006, mặc dù họ phân tán rất không đều. Ở Châu Âu chỉ có LuxembourgLiechtenstein có tỷ lệ cao hơn.

Tỷ lệ người nước ngoài trẻ em đặc biệt cao: cuộc điều tra dân số năm 2000 cho thấy trên 25,8% trẻ em dưới 6 tuổi không có quốc tịch Thụy Sĩ. Tại những thành phố lớn nhất 45% trẻ em trong độ tuổi này không phải là người Thụy Sĩ. Khoảng một phần năm trẻ em sinh ra tại Thụy Sĩ có ít nhất một bố hoặc mẹ là người nước ngoài.

Cuối năm 2006, 21,4% cư dân nước ngoài tại Thụy Sĩ đến từ một trong các bang của Nam Tư trước đây. Người Ý chiếm khoảng 18,9% trong số đó, tiếp theo là cư đân của Bồ Đào Nha (11,2%) và Đức (11,1%), Thổ Nhĩ Kỳ (4,8%), Pháp (4,7%) và Tây Ban Nha (4,4%).

Đa số cư dân người nước ngoài, năm 2006 là 86,5%, đến từ Châu Âu, nhưng tỷ lệ những người có quê nhà ở những đất nước xa hơn đang tiếp tục gia tăng.

Gần một phần tư số cư dân người nước ngoài này được sinh ra và lớn lên tại Thụy Sĩ; một số họ giờ đây có con cái - đó là những người nước ngoài thế hệ thứ hai.

Phân bố ngôn ngữ

Thụy Sĩ có bốn ngôn ngữ quốc gia, nhưng số lượng người nói các ngôn ngữ đó rất khác nhau.

Tiếng Đức

Tiếng Đức là ngôn ngữ được nói nhiều nhất ở Thụy Sĩ: 17 trong số 26 bang chỉ nói tiếng Đức.

Tiếng Pháp

Tiếng Pháp được nói ở vùng phía Tây của đất nước, “Suisse Romande”. Bốn bang nói tiếng Pháp: Geneva, Jura, Neuchatel và Vaud. Ba bang sử dụng song ngữ: ở Bern, Fribourg và Valais nói cả tiếng Pháp và tiếng Đức.

Tiếng Ý

Tiếng Ý được nói ở Ticino và bốn thung lũng phía nam bang Graubunden.

Tiếng Rumantsch

Tiếng Rumantsch chỉ được nói ở bang Graubunden sử dụng 3 ngôn ngữ. Hai ngôn ngữ khác được nói ở đó là tiếng Đức và tiếng Ý. Tiéng Rumantsch, như tiếng Ý và tiếng Pháp, là một ngôn ngữ có nguồn gốc Latin. Ngôn ngữ này chỉ được nói bởi 0,5% tổng dân số Thụy Sĩ.

Các ngôn ngữ khác

Nhiều cư dân người nước ngoài tại Thụy Sĩ đã mang theo với họ những ngôn ngữ của chính họ, ngoài tiếng Rumantsch và tiếng Ý. Cuộc điều tra dân số năm 2000 cho thấy những người nói tiếng Serbia/Croatia là nhóm ngôn ngữ nước ngoài lớn nhất, với 1,4% dân số. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính cho 1%.

Tiếng Anh

Những người nước ngoài thường cho rằng trên thực tế có bốn ngôn ngữ quốc gia ở Thụy Sĩ có nghĩa là mọi người dân Thụy Sĩ nói bốn ngôn ngữ, hoặc ít nhất là ba. Tuy nhiên, sự thực lại rất khác.

Người Thụy Sĩ chắc chắn tự hào về sự thành thạo ngôn ngữ của họ và nhiều người hiểu các ngôn ngữ khác của những người đồng hương của họ rất tốt. Tuy nhiên, sự thành thạo các ngôn ngữ quốc gia đang giảm vì sự ủng hộ tiếng Anh. Thụy Sĩ dùng bốn thứ tiếng đang trở thành một Thụy Sĩ hai phẩy năm thứ tiếng. Nhiều người nói tiếng mẹ đẻ của họ và tiếng Anh và hiểu một ngôn ngữ quốc gia thứ hai.

Mỗi bang có quyền tự quyết định ngôn ngữ nào sẽ được dạy. Tại vùng nói tiếng Đức của Thụy Sĩ  trẻ em thường bắt đầu học tiếng Pháp từ khi 9 tuổi, trong khi những người nói tiếng Pháp cũng bắt đầu học tiếng Đức cũng ở tuổi đó. Ở vùng Ticino và vùng nói tiếng Romantsch, cả tiếng Pháp và tiếng Đức đều được học trong cấp học bắt buộc (tiểu học và trung học). Để giảm nhẹ khối lượng, trẻ em có thể giảm tiếng Pháp khi họ bắt đầu học tiếng Anh từ năm thứ 8.

Bộ trưởng Giáo dục của Zurich đã tạo ra một cuộc tranh luận cấp quốc gia năm 2000 khi tuyên bố rằng bang của ông ta dự định chọn tiếng Anh là ngoại ngữ thứ nhất, thay vì tiếng Pháp. Những người ủng hộ chỉ ra rằng tiếng Anh có ích hơn trên thế giới. Họ thêm rằng trẻ em và các bậc cha mẹ thích tiếng Anh và rằng vì động cơ thúc đẩy là một thành phần quan trọng trong học ngôn ngữ, các học sinh có vẻ học tiếng Anh thành công hơn là học tiếng Pháp.

Những người phản đối lại thấy những quyết định đó là một mối đe dọa cho sự thống nhất của Thụy Sĩ, và lo sợ rằng những người nói tiếng Pháp và tiếng Ý sẽ gặp nhiều bất lợi vì họ vẫn cần nói tốt tiếng Đức để có thể thăng tiến trong nghề nghiệp ở Thụy Sĩ.

Lịch sử di cư

Mặc dù ngày nay Thụy Sĩ là một nước giàu, cuộc sống không phải luôn dễ dàng, và cho tới Chiến tranh Thế giới II vẫn có nhiều người di cư hơn nhập cư. Hầu hết những người ra đi để tìm kiếm cơ hội thoát khỏi cái nghèo; một số họ có những kỹ năng có thể buôn bán. Một số chỉ ra đi tạm thời, trong khi những người khác tạo dựng một cuộc sống mới ở nước ngoài cho họ và gia đình họ.

Trong khoảng 450 năm kỹ năng được xuất khẩu nổi tiếng nhất của người Thụy Sĩ là làm lính. Ước tính rằng trong những năm từ 1400 đến 1848 hơn hai triệu lính đánh thuê Thụy Sĩ đã được tuyển dụng bởi quân đội nước ngoài.

Người Thụy Sĩ ở nước ngoài ngày nay

Hầu hết những người Thụy Sĩ sống ở nước ngoài ngày nay chỉ sống tạm thời. Nước Pháp trước nay có số lượng người Thụy Sĩ nhập cư lớn nhất, tiếp theo đó là Mỹ và Đức. Cuối năm 2006 tổng số người Thụy Sĩ có đăng ký sống ở nước ngoài là 645.010

Cư dân Thụy Sĩ ở nước ngoài được biết đến như “Thụy Sĩ thứ năm” - bốn thứ kia là các vùng ngôn ngữ. Thụy Sĩ cung cấp một số dịch vụ và phương tiện cho họ để giữ liên lạc với quê hương. Thụy Sĩ cũng hỗ trợ tài chính cho 16 trường học Thụy Sĩ ở nước ngoài, và dạy theo chương trình giảng dạy của Thụy Sĩ.

OSI Vietnam
Tên và tên
Điện thoại
Ngày hẹn Lúc giờ phút
Lời nhắn
Mã xác nhận
 
Họ và tên
Email
Mã xác nhận